Doanh nghiệp
Công văn 3078/CT-NVT: Người đại diện theo pháp luật phải xác thực sinh trắc học khi đăng ký hóa đơn điện tử
Cục Thuế vừa ban hành Công văn 3078/CT-NVT ngày 15/5/2026 về việc xác thực sinh trắc học người đại diện theo pháp luật khi đăng ký hoặc thay đổi thông tin đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Theo Công văn 3078/CT-NVT, việc xác thực sinh trắc học được áp dụng đối với doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử hoặc thay đổi thông tin đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử do thay đổi người đại diện theo pháp luật, đại diện hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân.
Đối tượng thực hiện xác thực sinh trắc học là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trừ trường hợp là người nước ngoài chưa đáp ứng quy định về định danh điện tử mức độ 02 theo lộ trình của cơ quan chức năng.
Để thực hiện xác thực sinh trắc học, người đại diện theo pháp luật phải có tài khoản định danh điện tử mức độ 02 trên VNeID, đã cài đặt và sử dụng ứng dụng eTax Mobile. Đồng thời, thông tin người đại diện theo pháp luật trong dữ liệu đăng ký thuế phải khớp đúng với thông tin định danh cá nhân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.Người đại diện theo pháp luật phải xác thực sinh trắc học khi đăng ký hóa đơn điện tử (Ảnh minh họa)
Theo hướng dẫn của Cục Thuế, khi tiếp nhận Tờ khai đăng ký/thay đổi thông tin đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử mẫu số 01/ĐKTĐ-HĐĐT, Cổng thông tin hóa đơn điện tử sẽ gửi yêu cầu xác thực sinh trắc học bằng nhận diện khuôn mặt tới người đại diện theo pháp luật thông qua ứng dụng eTax Mobile.
Sau khi xác thực thành công, hệ thống tiếp tục xử lý hồ sơ để gửi thông báo chấp nhận hoặc không chấp nhận đăng ký/thay đổi đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định.
Y tế-Sức khỏe
Bộ Y tế đưa HPV vào danh mục tiêm chủng bắt buộc từ 01/7/2026
Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 13/2026/TT-BYT ngày 16/5/2026 quy định về hoạt động tiêm chủng, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một trong những nội dung đáng chú ý tại Thông tư là quy định bệnh do vi rút HPV (Human Papilloma Virus) ở người thuộc danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong tiêm chủng bắt buộc thông qua hoạt động của Chương trình tiêm chủng mở rộng.
Cụ thể, Điều 3 Thông tư 13/2026/TT-BYT quy định danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong tiêm chủng bắt buộc gồm:
- Bệnh viêm gan vi rút B;
- Bệnh lao;
- Bệnh bạch hầu;
- Bệnh ho gà;
- Bệnh uốn ván;
- Bệnh bại liệt;
- Bệnh do Haemophilus influenzae týp b;
- Bệnh sởi;
- Bệnh rubella;
- Bệnh viêm não Nhật Bản;
- Bệnh tiêu chảy do vi rút Rota;
- Bệnh do phế cầu;
- Bệnh do vi rút HPV ở người;
- Bệnh khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Thông tư 13/2026/TT-BYT cũng quy định việc tổ chức tiêm chủng thường xuyên, tiêm chủng bù liều, tiêm chủng chiến dịch chủ động và tiêm chủng chống dịch; chế độ thông tin, báo cáo về hoạt động tiêm chủng; việc quản lý đối tượng tiêm chủng và Hội đồng tư vấn chuyên môn đánh giá nguyên nhân tai biến nặng trong quá trình sử dụng vắc xin, sinh phẩm.
Theo Điều 27 Thông tư 13/2026/TT-BYT, Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Đồng thời, kể từ thời điểm này, các Thông tư 24/2018/TT-BYT, 34/2018/TT-BYT, 05/2020/TT-BYT và 52/2025/TT-BYT hết hiệu lực thi hành.
Cán bộ-Công chức-Viên chức
Từ 01/7/2026, người kê khai phải giải trình biến động tài sản, thu nhập tăng thêm
Nghị định 164/2026/NĐ-CP đã quy định rõ việc người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm so với lần kê khai liền trước.
Theo Điều 3 Nghị định 164/2026/NĐ-CP, giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm là việc người có nghĩa vụ kê khai tự giải thích, chứng minh về việc hình thành tài sản, thu nhập tăng thêm so với lần kê khai trước đó.
Trong quá trình xác minh tài sản, thu nhập, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có quyền yêu cầu người được xác minh cung cấp tài liệu, giấy tờ kiểm chứng đối với các nội dung đã kê khai.
Điều 21 Nghị định này quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, người được xác minh phải cung cấp tài liệu, giấy tờ kiểm chứng hoặc giải trình bằng văn bản về việc không cung cấp được tài liệu, giấy tờ kiểm chứng.
Bên cạnh đó, trường hợp nội dung giải trình chưa rõ, Tổ xác minh có thể làm việc trực tiếp với người được xác minh để làm rõ các nội dung kê khai. Nếu thông tin, tài liệu cung cấp chưa đầy đủ thì người được xác minh tiếp tục phải bổ sung thông tin, tài liệu giải trình trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định trường hợp giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực sẽ bị xử lý kỷ luật tùy theo giá trị tài sản vi phạm. Trong đó, người kê khai có chức vụ có thể bị cách chức nếu giải trình không trung thực đối với tài sản, thu nhập tăng thêm có tổng giá trị trên 20 tỷ đồng.
Tài nguyên-Môi trường
Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP: Cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh của 11 lĩnh vực nông nghiệp và môi trường
Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ban hành ngày 18/5/2026.
Theo Điều 3 Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP, cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
1. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoà điều kiện kinh doanh lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
2. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực chăn nuôi và thú y theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này.
3. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hoá thủ tục hành chính và cất giám, đem giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực thuỷ sản và kiểm ngư theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị quyết này.
4. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực thủy lợi theo quy định tại Phụ lục IV bạn hành kèm theo Nghị quyết này.
5. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị quyết này.
6. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực đất đai theo quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị quyết này.
7. Cất giảm, phân quyền, đơn giản hoá thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoà điều kiện kinh doanh lĩnh vực tài nguyên nước theo quy định tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị quyết này.
8. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hoá thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoà điều kiện kinh doanh lĩnh vực địa chất và khoáng sản theo quy định tại Phụ lục VIII ban hành kèm theo Nghị quyết này.
9. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực môi trường theo quy định tại Phụ lục IX ban hành kiếm theo Nghị quyết này.
10. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực khí tượng thủy văn theo quy định tại Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị quyết này,
11. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoi điều kiện kinh doanh lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo theo quy định tại Phụ lục X1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Tư pháp-Hộ tịch
Từ 01/01/2027, công chứng viên không được tự yêu cầu khách hàng vừa ký vừa điểm chỉ
Quy định nêu tại Luật công chứng 2026, số 04/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 01/01/2027 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Theo đó, tại khoản 14 Điều 1 Luật Công chứng 2026 quy định sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 50 Luật Công chứng 2024 như sau:
4. Việc điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký theo đề nghị của người yêu cầu công chứng.
Trong khi đó, tại khoản 4 Điều 50 Luật Công chứng 2024 quy định các trường hợp vừa điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký tên trong trường hợp sau:
- Công chứng di chúc;
- Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng;
- Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
Như vậy, theo luật mới công chứng viên sẽ không được tự yêu cầu khách hàng vừa ký vừa điểm chỉ nếu họ không đề nghị.
Ngoài ra, Điều 50 Luật Công chứng 2024 còn quy định việc ký văn bản công chứng trước sự chứng kiến của công chứng viên phải được chụp ảnh và lưu trữ trong hồ sơ công chứng.
Chính sách
Từ 01/01/2027, phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi được hỗ trợ tối thiểu 2 triệu đồng
Theo Nghị định 168/2026/NĐ-CP, từ ngày 01/01/2027, phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi sẽ được hỗ trợ tài chính tối thiểu 2.000.000 đồng.
Nghị định 168/2026/NĐ-CP quy định mức hỗ trợ tài chính tối thiểu 2.000.000 đồng/phụ nữ khi sinh con áp dụng đối với các trường hợp: phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi. Trường hợp phụ nữ đồng thời thuộc nhiều nhóm nêu trên thì chỉ được hưởng một mức hỗ trợ.
Việc hỗ trợ kinh phí được thực hiện thông qua Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Cơ quan này căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ và chi trả cho phụ nữ sinh con cùng thời điểm đăng ký khai sinh. Kinh phí hỗ trợ do ngân sách địa phương bảo đảm.
Bên cạnh chính sách hỗ trợ tài chính khi sinh con, Nghị định 168/2026/NĐ-CP cũng quy định về chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai. Theo đó, trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản 07 tháng; lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con, nếu đáp ứng điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định phụ nữ mang thai được khám và thực hiện sàng lọc trước sinh đối với 04 bệnh cơ bản gồm: hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau và bệnh Thalassemia. Trẻ sơ sinh được sàng lọc 05 bệnh cơ bản gồm: suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh và bất thường tim bẩm sinh nặng.
Mức hỗ trợ khám sàng lọc trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không quá 900.000 đồng/trường hợp; sàng lọc sơ sinh tối đa không quá 600.000 đồng/trường hợp. Từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 31/12/2026, chính sách này ưu tiên áp dụng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội, người dân tại địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo. Từ ngày 01/01/2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ theo quy định.